Bàn về quyền của Luật sư gặp gỡ bị can, bị cáo - Qua Công văn của TAND khu vực...

Văn Phòng Luật Sư Phan Vĩnh (PHAVILAW)

Email: phanvinh.luatsutayninh@gmail.com

Hotline: tel: 0848082789 Hotline

LUẬT LỆ KHÔNG KỆ ĐƯỢC ĐÂU

Bàn về quyền của Luật sư gặp gỡ bị can, bị cáo - Qua Công văn của TAND khu vực...
Ngày đăng: 26/11/2025 10:05 AMLượt theo dõi: 186

Vừa qua, có người chuyển hỉnh chụp Công văn của TAND Khu vực (tạm gọi là X.) của tỉnh Y. Và, đặt câu hỏi: Nội dung và thẩm quyền trong Công văn đó đúng/ hay sai - Và căn cứ pháp lý áp dụng?

 

Sau đây là một số ý kiến tham khảo:

I. NHẬN XÉT CHUNG VỀ HÌNH THỨC VÀ THẨM QUYỀN

1. Về hình thức văn bản

  • Văn bản được trình bày đúng bố cục hành chính thông thường.
  • Tuy nhiên, tên văn bản (“Công văn”) không nêu rõ căn cứ pháp lý cho việc từ chối quyền gặp bị cáo của Luật sư.
  • Không viện dẫn điều luật nào trong BLTTHS hoặc văn bản liên quan để giải thích cơ sở từ chối → đây là thiếu sót quan trọng.

2. Về thẩm quyền

  • Tòa án có thẩm quyền quản lý hồ sơ & quyết định các vấn đề tố tụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử (Điều 242 BLTTHS).
  • Tuy nhiên, việc hạn chế quyền gặp người bị tạm giam không thuộc thẩm quyền tùy nghi của Tòa án, mà phải căn cứ vào luật tố tụng – luật thi hành tạm giữ, tạm giam, không được tự ý hạn chế.

Vì vậy: Tòa có quyền trao đổi với Trại tạm giam, nhưng không có quyền đặt ra một “lệnh cấm” Luật sư gặp bị cáo trong toàn bộ thời gian chuẩn bị xét xử nếu luật không cho phép.

II. NHẬN XÉT CHI TIẾT TỪNG NỘI DUNG VÀ CĂN CỨ PHÁP LÝ

1. Tòa nêu việc Luật sư đã được sao hồ sơ → Không phải căn cứ để từ chối gặp bị cáo

Nội dung văn bản nói:

Luật sư đã sao hồ sơ nên “đã đảm bảo cho việc tham gia tố tụng”.

Căn cứ pháp lý:

  • BLTTHS 2015 – Điều 73 khoản 1, 2: Luật sư có quyền
    • “gặp người bị tạm giam”,
    • “trao đổi, hướng dẫn họ về quyền, nghĩa vụ và nội dung bào chữa”.
  • Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 – Điều 22:
    “Người bị tạm giam được gặp người bào chữa”.
  • Luật không đặt điều kiện rằng đã được sao hồ sơ thì không cần gặp thân chủ nữa.

Vì vậy: lập luận của Tòa là trái luật. Quyền gặp bị cáo không phụ thuộc vào việc đã tiếp cận hồ sơ hay chưa.

2. Tòa viện lý do “khách quan, toàn diện, tránh oan sai” → Không phải căn cứ hạn chế quyền gặp bị cáo

Nội dung văn bản nói:

“Do tính chất vụ án”, để khách quan, toàn diện… nên Tòa từ chối Luật sư gặp bị cáo.

Căn cứ pháp lý:

  • Quyền bào chữa là quyền hiến định:
    Hiến pháp 2013 – Điều 31 khoản 4:
    “Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư bào chữa.”
  • BLTTHS 2015 – Điều 16:
    “Không ai bị coi là có tội cho đến khi được tòa án kết luận theo trình tự luật định.”
  • Luật không có điều khoản nào cho phép Tòa hạn chế Luật sư gặp bị cáo vì lý do “khách quan vụ án”.

Tòa chỉ được phép hạn chế trong những trường hợp duy nhất luật định, ví dụ:

  • Khi gặp ảnh hưởng đến bí mật điều tra (Điều 22 Luật tạm giữ, tạm giam) — nhưng vụ án này đã kết thúc điều tra & có cáo trạng, tức không còn bí mật điều tra.
  • Khi bị cáo đang bị cách ly theo lệnh của HĐXX trong chính phiên tòa — không phải giai đoạn chuẩn bị xét xử.

Do đó: lý do Tòa đưa ra là không có căn cứ pháp luật.

3. Tòa từ chối cho Luật sư gặp bị cáo cho đến khi kết thúc phiên tòa → Trái luật

Nội dung văn bản nói:

“Tòa án… không chấp nhận việc Luật sư làm việc với Võ Quang H… cho đến khi kết thúc phiên tòa xét xử sơ thẩm.”

Căn cứ pháp lý trực tiếp:

● BLTTHS 2015 – Điều 75 khoản 1 điểm d

Luật sư có quyền:
“Gặp người bị tạm giam để thực hiện việc bào chữa”.

● Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 – Điều 22 khoản 1

“Người bị tạm giam được gặp người bào chữa theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.”

● Không giai đoạn nào của tố tụng cho phép Tòa áp dụng “lệnh cấm” kéo dài đến sau phiên tòa.

  • Đây là hạn chế quyền bào chữa, xâm phạm nghiêm trọng quyền của bị cáo.
  • Thậm chí có thể bị xem là vi phạm tố tụng nghiêm trọng (Điều 371 BLTTHS – căn cứ để hủy án).

Nhận xét:
Việc cấm gặp thân chủ đến khi kết thúc phiên tòa là không có điều luật nào cho phép.
Đây là trái luật rõ ràng.

4. Việc Tòa “định hướng” rằng: các vấn đề sẽ làm rõ tại phiên tòa → không phải lý do hợp pháp để từ chối

Luật sư cần chuẩn bị trước cho phần hỏi – tranh luận.
Quyền chuẩn bị bào chữa không chỉ thực hiện “ngay tại phiên tòa”.

Căn cứ pháp lý:

  • BLTTHS 2015 – Điều 73 khoản 2:
    Luật sư có quyền chuẩn bị tài liệu, đồ vật, lập luận để bào chữa.

→ Muốn chuẩn bị, phải được gặp bị cáo để hỏi, so sánh, kiểm chứng lời khai.

Tòa không thể thay Luật sư quyết định cách chuẩn bị bào chữa.

III. KẾT LUẬN NHẬN XÉT CHÍNH

  1. Tòa án không có căn cứ pháp lý để từ chối cho Luật sư gặp bị cáo trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.
  2. Lý do Tòa đưa ra (“tính khách quan”, “để tránh oan sai”) không thuộc bất kỳ trường hợp hạn chế nào trong BLTTHS hoặc Luật thi hành tạm giam.
  3. Việc cấm Luật sư gặp bị cáo cho đến khi kết thúc phiên tòa là trái pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm quyền bào chữa, có thể dẫn đến:
    • Khiếu nại theo Điều 499 BLTTHS;
    • Báo cáo Chánh án TAND tỉnh Y.;
    • Ghi nhận là vi phạm tố tụng tại phiên tòa.

Tóm lại,

“Quyền được gặp người bào chữa là quyền tố tụng cơ bản của người bị buộc tội, được Hiến pháp, BLTTHS và Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam bảo đảm. Việc hạn chế quyền gặp thân chủ cho đến khi kết thúc phiên tòa là không có căn cứ pháp luật và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền bào chữa, ảnh hưởng đến tính khách quan, toàn diện của việc xét xử.”

Trên đây cũng chỉ là những ý kiến mang tính tham khảo. Vì để trả lời chính xác tình huống pháp lý này, còn cần phải có các dữ liệu từ các ngành có liên quan (Trại giam, Viện Kiểm sát...) 

ThS-LS. PHAN VĨNH

 

Zalo
youtube